Một số nhận định về BĐKH thời kỳ 2016-2035 tại khu vực Việt Bắc từ kết quả dự tính khí hậu của Kịch bản BĐKH và nước biển dâng cho Việt Nam năm 2016.



Thứ hai - 27/08/2018 17:06

1/ Xu thế chung BĐKH toàn cầu và Việt Nam

-Về nhiệt độ:Thời kỳ đầu thế kỷ, năm 2016-2035, nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng khoảng 0,3÷0,7oC. Khu vực Việt Nam có mức độ tăng tương đương với trung bình toàn cầu (nguồn: IPCC, 2013 và KBBĐKH, 2016).

Thời kỳ cuối thế kỷ (năm 2081-2100) nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng khoảng 0,3°C÷1,7°C đối với kịch bản phát thải thấp RCP2.6; 1,1°C÷2,6°C đối với kịch bản phát thải trung bình RCP4.5; tăng 1,4°C÷3,1°C đối với kịch bản phát thải trung bình cao RCP6.0 và 2,6°C÷4,8°C đối với kịch bản phát thải cao RCP8.5.

Nhìn chung nhiệt độ tăng không đồng nhất theo các khu vực. Gần như chắc chắn rằng nhiệt độ trung bình thời kỳ 2081-2100 có thể tăng trên 2oC so với thời kỳ 1986-2005 theo kịch bản RCP8.5.

-Về lượng mưa: Xu thế chung là lượng mưa mùa mưa tăng, lượng mưa mùa khô giảm. Lượng mưa có xu thế tăng ở vùng vĩ độ cao và gần xích đạo, xu thế giảm của lượng mưa diễn ra ở Tây Nam Úc, Nam Mỹ, châu Phi, và khu vực giữa Đại Tây Dương đến Địa Trung Hải (nguồn: IPCC, 2013).

- Về nước biển dâng quy mô toàn cầu (IPCC, 2013): Mực nước biển toàn cầu tiếp tục tăng trong thế kỷ 21 với tốc độ lớn hơn 2,0mm/năm, chủ yếu do quá trình giãn nở nhiệt và tan băng từ các sông băng và băng trên đỉnh núi.

+ Vào giữa thế kỷ, mực nước biển tăng 19÷33cm theo kịch bản trung bình thấpRCP4.5 và 22÷38cm theo kịch bản caoRCP8.5. Vào cuối thế kỷ, mực nước biển tăng 32÷63cm theo kịch bản RCP4.5 và 45 ÷ 82cm theo kịch bản caoRCP8.5. Đến năm 2100, mực nước biển tăng 36 ÷ 71cm theo kịch bản trung bìnhthấpRCP4.5 và 52÷ 98cm theo kịch bản caoRCP8.5.

- Xu thế biến đổi khí hậu ở Việt Nam:Nhiệt độ có xu thế tăng ở hầu hết các trạm quan trắc, tăng nhanh trong những thập kỷ gần đây. Trung bình cả nước, nhiệt độ trung bình năm thời kỳ 1958-2014 tăng khoảng 0,62oC, riêng giai đoạn (1985-2014) nhiệt độ tăng khoảng 0,42oC. Cực trị nhiệt độ tăng ở hầu hết các vùng, ngoại trừ nhiệt độ tối cao có xu thế giảm ở một số trạm phía Nam (nguồn: KBBĐKH, 2016).

- Lượng mưa trung bình năm có xu thế giảm ở hầu hết các trạm phía Bắc; tăng ở hầu hết các trạm phía Nam.  Hạn hán xuất hiện thường xuyên hơn trong mùa khô.

- Số lượng bão mạnh có xu hướng tăng; Số ngày rét đậm, rét hại có xu thế giảm nhưng xuất hiện những đợt rét dị thường. Và ảnh hưởng của El Nino và La Nina có xu thế tăng.

+ Về nhiệt độ:Theo KBBĐKH – 2016, tốc độ tăng trung bình mỗi thập kỷ khoảng 0,10oC, thấp hơn giá trị trung bình toàn cầu (0,12oC/thập kỷ, IPCC 2013).

+ Về lượng mưa:Trong thời kỳ 1958-2014, lượng mưa năm tính trung bình cả nước có xu thế tăng nhẹ. Trong đó, tăng nhiều nhất vào các tháng mùa đông và mùa xuân; giảm vào các tháng mùa thu. Nhìn chung, lượng mưa năm ở các khu vực phía Bắc có xu thế giảm (từ 5,8% ÷ 12,5%/57 năm); các khu vực phía Nam có xu thế tăng (từ 6,9% ÷ 19,8%/57 năm). Khu vực Nam Trung Bộ có mức tăng lớn nhất (19,8%/57 năm); khu vực đồng bằng Bắc Bộ có mức giảm lớn nhất (12,5%/57 năm).

Số liệu quan trắc cho thấy mưa trái mùa và mưa lớn dị thường xảy ra nhiều hơn. Trong những năm gần đây, mưa lớn xảy ra bất thường hơn cả về thời gian, địa điểm, tần suất và cường độ. Ví dụ, mưa lớn kỷ lục năm 2008 ở Hà Nội và lân cận, với lượng mưa quan trắc được từ 19 giờ ngày 30/10/2008 đến 01 giờ ngày 1/11/2008 lên tới 408mm tại trạm Hà Nội. Mưa lớn vào tháng 10/2010 ở khu vực từ Nghệ An đến Quảng Bình với tổng lượng mưa 10 ngày dao động từ 700÷1600mm, chiếm trên 50% tổng lượng mưa năm. Trận mưa lớn ở Quảng Ninh vào cuối tháng 7 đầu tháng 8/2015 đã lập kỷ lục cường độ mưa tập trung trên phạm vi hẹp; cụ thể, trong cả đợt mưa từ 23/07 đến 04/08, tổng lượng mưa đo được dao động từ 1000÷1300mm, riêng tại Cửa Ông lượng mưa đo được gần 1600mm. Mưa lớn không chỉ xảy ra trong mùa mưa mà ngay cả trong mùa khô, đợt mưa trái mùa từ ngày 24 đến 27/3/2015 ở Thừa Thiên - Huế đến Quảng Ngãi có lượng mưa phổ biến từ 200÷500mm.

+ Về nắng nóng và rét đậm rét hại:Theo số liệu quan trắc thời kỳ 1961-2014, nhiệt độ ngày cao nhất (Tx) và thấp nhất (Tm) có xu thế tăng rõ rệt, với mức tăng cao nhất lên tới 1oC/10 năm. Số ngày nóng (số ngày có Tx ≥35oC) có xu thế tăng ở hầu hết các khu vực của cả nước, đặc biệt là ở Đông Bắc, đồng bằng Bắc Bộ và Tây Nguyên với mức tăng phổ biến 2÷3 ngày/10 năm, nhưng giảm ở một số trạm thuộc Tây Bắc, Nam Trung Bộ và khu vực phía Nam. Các kỷ lục về nhiệt độ trung bình cũng như nhiệt độ tối cao liên tục được ghi nhận từ năm này qua năm khác. Một ví dụ điển hình như tại trạm Con Cuông (Nghệ An), nhiệt độ cao nhất quan trắc được trong đợt nắng nóng năm 1980 là 42oC, năm 2010 là 42,2oC và năm 2015 là 42,7oC.

Số ngày rét đậm, rét hại ở miền Bắc có xu thế giảm, đặc biệt là trong hai thập kỷ gần đây, tuy nhiên có sự biến động mạnh từ năm này qua năm khác, xuất hiện những đợt rét đậm kéo dài kỷ lục, những đợt rét hại có nhiệt độ khá thấp. Năm 2008 miền Bắc trải qua đợt rét đậm, rét hại kéo dài 38 ngày (từ 13/1 đến 20/2), băng tuyết xuất hiện trên đỉnh Mẫu Sơn (Lạng Sơn) và Hoàng Liên Sơn (Lào Cai), nhiệt độ có giá trị -2 và -3oC. Mùa đông 2015-2016, rét đậm, rét hại diện rộng ở miền Bắc, tuy không kéo dài nhưng nhiệt độ đạt giá trị thấp nhất trong 40 năm gần đây; tại các vùng núi cao như Pha Đin, Sa Pa hay Mẫu Sơn, nhiệt độ thấp nhất dao động từ -5 đến -4oC; băng tuyết xuất hiện nhiều nơi, đặc biệt là ở một số nơi như Ba Vì (Hà Nội) và Kỳ Sơn (Nghệ An) có mưa tuyết lần đầu tiên trong lịch sử.

+ Về hạn hán:Số lượng các đợt hạn hán gia tăng trên phạm vi toàn quốc. Từ năm 2000 đến nay, khô hạn gay gắt hầu như năm nào cũng xảy ra. Vào năm 2010 mức độ thiếu hụt dòng chảy trên hệ thống sông, suối cả nước so với trung bình nhiều năm từ 60÷90%, mực nước ở nhiều nơi rất thấp, tương ứng với tần suất lặp lại 40÷100 năm. Năm 2015 mùa mưa kết thúc sớm, dẫn đến tổng lượng mưa thiếu hụt nhiều so với trung bình nhiều năm trên phạm vi cả nước.

2/ Xu thế đối với thời kỳ 2016-2035 tại khu vực Việt Bắc

Với Kịch bản đường phân bố nồng độ khí nhà kính đại diện RCP (Representative Concentration Pathways) trung bình thấp RCP4.5 (tương đương với kịch bản SRES B1- Kịch bản phát thải khí nhà kính mà Việt Nam lựa chọn) tương ứng với mức năng lượng bức xạ bề mặt trái đất nhận được là 4.5 (W/m2) vào năm 2100. Thời kỳ cơ sở là thời kỳ 1986-2005. Mùa Đông là các tháng XII-II, mùa Xuân từ tháng III-V, mùa Hè từ tháng VI-VIII, mùa Thu từ tháng IX-XI (nguồn: Kịch bản BĐKH, NBD năm 2012). Các kết quả dự tính như sau:

-Về nhiệt độ: Đối với mùa Đông và mùa Xuân cho thấy Lào Cai và Yên Bái có mức tăng nhiệt độ cao hơn so với các tỉnh phía đông nam khu vực. Biến đổi của nhiệt độ trung bình mùa Hè có sự phân hóa giữa các tỉnh phía bắc và các tỉnh phía nam khu vực. Biến đổi của nhiệt độ trung bình mùa Thu tương đối đồng đều, chỉ có Vĩnh Phúc và Thái Nguyên gần đồng bằng có sự tăng cao hơn.

Bảng 1: Dự tính tăng nhiệt độ Trung bình các mùa theo Kịch bản RCP4.5
Thời kỳ đầu TK 2016-2035 (
oC)

STT

Tỉnh

Mùa Đông

Mùa Xuân

Mùa Hè

Mùa Thu

1

Lào Cai

0,7 (0,3÷1,2)

0,7 (0,2÷1,2)

0,7 (0,3÷1,1)

0,7 (0,3÷1,1)

2

Hà Giang

0,6 (0,2÷1,2)

0,6 (-0,1÷1,2)

0,6 (0,2÷1,1)

0,7 (0,2÷1,2)

3

Yên Bái

0,7 (0,2÷1,1)

0,7 (0,0÷1,2)

0,7 (0,2÷1,1)

0,7 (0,2÷1,2)

4

Tuyên Quang

0,6 (0,2÷1,1)

0,6 (-0,1÷1,2)

0,7 (0,2÷1,1)

0,7 (0,1÷1,2)

5

Bắc Kạn

0,6 (0,2÷1,2)

0,6 (-0,1÷1,2)

0,7 (0,3÷1,1)

0,7 (0,2÷1,2)

6

Thái Nguyên

0,6 (0,2÷1,2)

0,6 (-0,1÷1,2)

0,8 (0,3÷1,2)

0,8 (0,2÷1,2)

7

Phú Thọ

0,6 (0,1÷1,0)

0,6 (0,0÷1,3)

0,8 (0,3÷1,3)

0,7 (0,3÷1,2)

8

Vĩnh Phúc

0,6 (0,2÷1,1)

0,6 (0,0÷1,2) 

0,8 (0,4÷1,3)

0,8 (0,3÷1,2)

 

(Giá trị trong ngoặc đơn là khoảng biến đổi quanh giá trị trung bình với cận dưới 10% và cận trên 90%; (nguồn: KBBĐKH, 2016))

-Về lượng mưa:

Bảng 2: Dự tính biến đổi lượng mưa các mùa theo Kịch bản RCP4.5
Thời kỳ đầu TK 2016-2035 (khoảng %)

STT

Tỉnh

Mùa Đông

Mùa Xuân

Mùa Hè

Mùa Thu

1

Lào Cai

7,2 (-2,1÷17,3)

-3,5 (-8,6÷1,5)

9,4 (3,0÷15,2)

-10,6 (-27,5÷5,0)

2

Hà Giang

15,0 (4,4÷25,6)

-3,6 (-10,0÷3,0)

9,9 (5,6÷14,0) 

3,6 (-14,5÷21,0)

3

Yên Bái

11,1 (-0,6÷23,3)

-4,2 (-8,9÷0,3)

12,8 (3,9÷21,3)

6,4 (-8,6÷21,3)

4

Tuyên Quang

17,8 (5,6÷29,6)

-3,4 (-9,5÷2,7)

17,3 (12,7÷22,1)

15,3 (-4,7÷34,9)

5

Bắc Kạn

12,8 (0,1÷25,0)

7,5 (-0,4÷15,8) 

14,6 (8,9÷19,9)

44,6 (2,4÷81,4) 

6

Thái Nguyên

10,1 (-3,2÷24,3)

-0,8 (-7,6÷5,8) 

18,9 (11,1÷26,5)

29,4 (-0,5÷57,0)

7

Phú Thọ

11,9 (0,9÷22,5)

-8,1 (-12,6÷-3,9)

12,9 (2,0÷23,5)

23,3 (3,7÷44,9)

8

Vĩnh Phúc

12,5 (0,4÷25,8)

-6,8 (-11,9÷-1,9)

17,9 (8,7÷26,7)

28,8 (5,4÷54,4) 

(Giá trị trong ngoặc đơn là khoảng biến đổi quanh giá trị trung bình với cận dưới 20% và cận trên 80%; (nguồn: KBBĐKH, 2016))

+ Biến đổi lượng mưa theo mùa (hình 1):

 

Hình1: So sánh xu thế biến đổi lượng mưa trung bình theo mùa thời kỳ 2016-2035 tại 8 tỉnh Việt Bắc

+ Một số nhận định về biến đổi lượng mưa ở khu vực Việt Bắc:Theo KBBĐKH năm 2016, thời kỳ 2016-2035, lượng mưa mùa Xuân đa số tỉnh có xu thế giảm, chỉ có Bắc Cạn ở giáp khu vực Đông Bắc có xu thế tăng. Điều này có liên hệ tương quan thuận với xu thế giảm số ngày mưa phùn ở khu vực và tương quan nghịch với xu thế tăng bốc hơi do Trái Đất nóng lên. Số ngày mưa phùn giảm phù hợp với xu thế giảm cường độ và thu hẹp phạm vi hoạt động của Áp cao lạnh Xiberia (theo Chu Thị Thu Hường, Luận án Tiến Sĩ, 2015), trừ Bắc Cạn còn chịu ảnh hưởng nhiều của hoàn lưu áp cao lạnh biến tính.

Lượng mưa mùa Hè, mà Đông và nhất là mùa Thu đều có xu thế tăng ở tất cả các tỉnh. Cũng theo Chu Thị Thu Hường(2015), Áp cao Thái Bình Dương, áp cao Mascarene và áp cao Châu Úc có xu hướng tăng về cường độ và ngày càng mở rộng phạm vi hoạt động. Như vậy, lượng mưa mùa Hè do gió mùa Tây Nam cũng được gia tăng hơn. Đặc biệt là khi Áp cao Thái Bình Dương ngày càng mở rộng phạm vi hoạt động lấn mạnh sang phía tây và nâng cao lên phía bắc, đới gió đông ở hoàn lưu phía nam áp cao TBD sẽ mang lượng mưa tăng đáng kể. Khi nâng trục cao lên phía bắc, thời gian hạ trục về phía nam sẽ chậm hơn, có khi đến tận tháng 11 áp cao cận nhiệt mới dần hạ trục xuống Bắc Trung Bộ như đã xảy ra năm 2010. Đây có thể là yếu tố chính gây nên xu thế tăng lượng mưa mùa Thu ở khu vực Việt Bắc, nhất là ở các tỉnh phía đông nam như Thái Nguyên, Bắc Cạn, Vĩnh Phúc, Phú Thọ (hình 1).

Đồng thời cũng kết hợp với xu thế chung làm tăng lượng mưa đó là nhiệt độ không khí tăng, lượng nước chứa trong khí quyển cũng tăng lên theo phương trình Clausius - Clapeyron, sẽ gây nên những trận mưa lớn nhiều hơn, làm tăng lượng mưa.

Người đăng tin: BQT
Nguồn tin: Ths. Đào Thăng Long – Đài KTTV khu vực Việt Bắc
 

Bộ đếm

  • Đang truy cập: 9
  • Hôm nay: 1033
  • Tháng hiện tại: 14263
  • Tổng lượt truy cập: 812180

Hỗ trợ trực tuyến

Phòng MLT & TT KTTV

Name: Quản Trị Viên
Phone: 0913568698
dungvb@gmail.com

Name: Kỹ Thuật Viên

Mực nước hiện tại